Sửa đổi Công ước Basel

Sửa đổi Công ước Basel

Vào tháng Ba năm 1994, 65 bên tham gia Công ước Basel do nhóm G-77 gồm các nước đang phát triển và Trung Quốc đã bỏ phiếu đồng thuận lệnh cấm hoàn toàn đối với tất cả xuất khẩu chất thải nguy hại từ các nước OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) tới các quốc gia nằm trong OECD.

Tuy nhiên, nó đã được lập luận rằng quyết định 1994 là không ràng buộc pháp lý trừ khi nó trở thành một phần của Công ước Basel thông qua sửa đổi. Vì vậy, năm 1995, một quyết định lần hai để sửa đổi Công ước cũng đã được thông qua bằng sự đồng thuận của các bên Công ước Basel. Phụ lục VII, mô tả các bên, các nước khác là thành viên của OECD, Ủy ban châu Âu (EC) và Liechtenstein là một phần không thể thiếu của các bổ sung sửa đổi. Nó đã được thông qua vào năm 1995 theo Quyết định III / 1, sửa đổi Công ước Basel.

Một đoạn mở đầu mới được bổ sung vào Công ước đã thừa nhận rằng các vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại, đặc biệt là tới các nước đang phát triển, có nguy cơ cao không tạo ra quản lý môi trường hiệu quả các chất thải nguy hại theo yêu cầu của Công ước này.

Một Điều luật mới cũng được bao gồm rằng các nước “mỗi Bên được liệt kê trong Phụ lục VII sẽ cấm tất cả các vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại được dành cho các hoạt động theo Phụ lục IV A,  tới các quốc gia không được liệt kê trong Phụ lục VII” và “mỗi Bên được liệt kê trong Phụ lục VII cho tới ngày 31 tháng 12 năm 1997 sẽ dần dần loại bỏ, và tiến tới cấm vào thời điểm đó, mọi vận chuyển  xuyên biên giới các chất thải nguy hại quy định tại Điều 1 (I) (a) của Công ước, được dành cho các hoạt động theo Phụ lục IV B tới các quốc gia không được liệt kê trong Phụ lục VII. Như vậy là vận chuyển xuyên biên giới như vậy sẽ không bị cấm, trừ các chất thải được đặt ra là có tính chất nguy hiểm theo Công ước. ”

Trong khi việc sửa đổi có hiệu quả cấm (như của ngày 01 tháng 1 năm 1998) tất cả các hình thức xuất khẩu chất thải nguy hại từ các nước công nghiệp của OECD tới tất cả các nước không thuộc OECD, để cho việc sửa đổi có hiệu lực pháp lý nó đòi hỏi 62 quốc gia phê chuẩn. Con số này tương đương 3/4 số các Bên có mặt vào năm 1995 khi Quyết định III / 1 đã được đưa ra bởi COP.

Vào năm 2006 số lượng quan trọng của việc phê chuẩn cần thiết để mang lại Tu chính án (Sửa đổi lệnh cấm xuất khẩu) để đạt được hiệu lực. Tuy nhiên, một số bên đã tranh luận rằng Điều 17 của Công ước là không rõ ràng liên quan tới việc phải đáp ứng các ngưỡng ¾ các bên đồng ý. Cách hiểu đầu tiên và phổ biến nhất là 3/4 trong số của 82 bên đã có mặt tại thời điểm ra Quyết định III / 1 vào năm 1995 sẽ cần phải phê chuẩn lệnh cấm xuất khẩu Basel sửa đổi để có hiệu lực. Điều này đòi hỏi sự phê chuẩn của 62 gia thành viên là đã đạt được.

Một phản bác tuyên bố rằng việc phê chuẩn của 3/4 trong số đầy đủ 126 quốc gia ký kết Công ước là cần thiết để có hiệu lực cũng đã được đưa ra. Điều này đòi hỏi 126 quốc gia phê chuẩn.

Các tranh chấp có thể được giải quyết nếu COP quyết định một trong hai cách giải thích những điều đó là đúng. Nếu các bên không thể giải quyết vấn đề sau đó nó sẽ  được xác định bởi Văn phòng Nội vụ Pháp Luật  tại Liên Hiệp Quốc. Điều này có thể dẫn đến một kết quả thứ ba được gọi là “phương pháp tiếp cận tại thời điểm hiện tại” trong đó yêu cầu việc phê chuẩn của 3/4 của các Bên tại bất kỳ thời điểm nào được đưa ra (hiện tại này sẽ yêu cầu 126 quốc gia phê chuẩn nhưng có lẽ sẽ nhiều hơn trong tương lai).

Tính đến tháng Bảy năm 2007, vấn đề này vẫn không được giải quyết bởi các bên.

Theo nguồn: http://www.ntn.org.au/cchandbook/basel/obli_sc3.html#ban

Hãy bình luận cho:

Sửa đổi Công ước Basel