Giới- Yếu tố ẩn trong lĩnh vực khai khoáng ở Việt Nam

Giới- Yếu tố ẩn trong lĩnh vực khai khoáng ở Việt Nam

 “Khai khoáng là vấn đề kĩ thuật”, “Khai khoáng không liên quan gì đến Giới”, “Đó không phải là lĩnh vực của Phụ nữ”, … Liệu đó có phải là những nhận định đúng không? Và nếu hiểu dưới góc độ phát triển thì phải như thế nào? “Giới – Yếu tố ẩn trong lĩnh vực Khai khoáng ở Việt Nam”. Nghiên cứu này có thể nói là nghiên cứu định tính đầu tiên nhằm mục đích thu thập thông tin về các vấn đề giới trong hoạt động khai khoáng và đề xuất phương thức hỗ trợ  tập trung vào vấn đề công bằng giới và giảm bớt tác động xã hội trong các hoạt động thuộc lĩnh vực này.

Nghiên cứu chỉ ra sự đối nghịch giữa mức độ quan trọng của việc hiểu và xem xét yếu tố Giới trong hoạt động khai khoáng do những ảnh hưởng lớn của hoạt động này đối với cộng đồng, đối với phụ nữ và nam giới và mối quan hệ giữa họ, với mức độ thể hiện một cách rất mờ nhạt trong các chính sách, luật pháp; trong thực thi chính sách, luật pháp; trong quan điểm của các nhà lãnh đạo, các cấp quản lí, những người làm chuyên môn và người dân, bao gồm cả nam giới và nữ giới.

Ảnh hưởng của khai khoáng đến phụ nữ và nam giới: nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động và chia ra các khía cạnh như sinh kế/kinh tế, xã hội và môi trường, văn hóa – lịch sử. Về khía cạnh kinh tế/sinh kế, nghiên cứu đi sâu vào vấn đề lợi ích và dịch vụ công cộng. Khi nói đến dịch vụ công, các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ và trẻ em luôn bị ảnh hưởng đầu tiên khi dịch vụ công đi xuống và là người được hưởng lợi nhiều khi dịch vụ công tốt lên. Khi các đơn vị khai khoáng không tuân thủ các nguyên tắc và trách nhiệm xã hội làm cho dịch vụ công cộng và công ích cũng như cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn xuống cấp. Một số  hộ kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững. Tiền đền bù khiến cho kinh tế của một số hộ gia đình tăng trưởng nhanh chóng nhưng việc sử dụng tiền đền bù không đúng mục đích (làm nhà to, mua sắm các phương tiện đắt tiền, cờ bạc, rượu chè, đua đòi….), không hiệu quả (đầu tư làm ăn lớn như chăn nuôi lợn, gà với số lượng lớn nhưng thiếu kiến thức về chăn nuôi gây ra việc gia súc gia cầm có thể nhiễm bệnh chết hàng loạt hoặc thiếu kiến thức về thị trường làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, thua lỗ) có thể làm các hộ gia đình tái nghèo. Ngoài ra các gia đình bỏ đất sản xuất vì tâm lý không yên tâm làm ăn, tạo ra hiện tượng thiếu việc làm, lãng phí nguồn lực, giảm nguồn thu nhập của gia đình. Kinh tế gia đình sa sút người phụ nữ là người chịu sức ép và vất vả hơn cả. Hiện tại phụ nữ vẫn là người chịu trách nhiệm chính trong việc đáp ứng các nhu cầu, dịch vụ cho gia đình.

Về khía cạnh xã hội, khi môi trường bị ảnh hưởng, sinh kế không còn, nam giới, người trẻ tuổi di cư ra đô thị tìm việc, người già, trẻ em và  phụ nữ trung tuổi ở lại và đảm nhiệm mọi công việc. Những người đi tìm việc làm ở nơi khác để lại toàn bộ gia đình cho người ở lại. Người ở lại chủ yếu là người cao tuổi, hết tuổi lao động; trẻ em và phụ nữ trung tuổi. Sự phụ thuộc vào khai thác khoáng sản nói chung tạo ra sự phân công lao động theo giới  khá rõ giữa việc của đàn ông và việc của đàn bà trong hoạt động khai khoáng. Điểm chung trong phân công lao động theo giới là nam thường đảm nhiệm những công việc được cho hoặc có yêu cầu về kỹ thuật cao; đòi hỏi sức khoẻ tốt; quan trọng, thu nhập cao. Ngược lại, nữ giới thường đảm nhiệm những công việc được cho hoặc không cần yêu cầu về trình độ tay nghề hay kỹ thuật cao. Theo đó, thu nhập của nam giới bao giờ cũng cao hơn nữ giới. Điều này càng củng cố địa vị của nam giới trong gia đình và xã hội, theo đó, địa vị  và sự đóng góp của phụ nữ ngày càng mờ nhạt.

Về khía cạnh môi trường, ô nhiễm chủ yếu là ô nhiễm bụi trong quá trình khai thác, tuyển loại và vận chuyển, khói trong quá trình chế biến, tiếng ồn trong quá trình nổ mìn; tuyển loại và vận chuyển, đá văng trong quá trình khai thác và ô nhiễm nguồn nước. Ô nhiễm xảy ra do hầu hết các cơ sở kinh doanh, khai thác, chế biến khoáng sản đều vi phạm luật bảo vệ môi trường theo nhiều cách/mức độ khác nhau. Đặc biệt, ô nhiễm  nguồn nước gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế (nông nghiệp), đời sống sinh hoạt, sức khoẻ. Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến nam và nữ có những khác biệt mà trong đó phụ nữ thường phải gánh chịu những khó khăn, cực nhọc hơn trong đời sống của họ. Bởi vì, trong vai trò giới hiện tại phụ nữ vẫn là người đảm nhiệm chính việc chăm sóc trong gia đình. Theo đó, họ vẫn là người chịu trách nhiệm với các nguồn lực cho gia đình như là nước, nhiên liệu và lương thực.

Tiếng nói của cộng đồng,của phụ nữ và nam giới liên quan đến lĩnh vực khai khoáng: Tiếng nói của chính quyền cơ sở thường bị động trong các quyết định cấp phép khai thác khoáng sản trên địa bàn. Hoạt động tham vấn ý kiến chính quyền mang tính hình thức và thường bỏ quên ý kiến của người dân, các báo cáo đánh giá tác động môi trường, hay những tham vấn ý kiến người dân thường chỉ mang tính hình thức.  Chính quyền cơ sở nhận thấy tình trạng “lợi bất cập hại” từ hoạt động khai khoáng trên địa bàn nhưng lại rơi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”. Chính quyền cơ sở ngoài việc thương thuyết, vận động trực tiếp các doanh nghiệp thực hiện các cam kết hoặc giải quyết những vấn đề nảy sinh ảnh hưởng tới cộng đồng, những vấn đề tồn đọng chỉ có thể phản ánh theo cấp, theo ngạch mà không đủ thẩm quyền để quyết định.

Các quyết định nhạy cảm giới còn mờ nhạt, không được lồng ghép cũng như bị bỏ qua: bản thân tỷ lệ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay là thấp, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa. Cho nên, ngay cả vị trí chủ chốt là nữ thì cũng khó có thể đảm bảo tiếng nói của nữ vì tỷ trọng ý kiến giữa nam và nữ trong bộ máy không cân xứng khiến cho việc đảm bảo tiếng nói của nữ giới trong các quyết định của chính quyền cơ sở còn yếu. Bên cạnh đó, như trên đã phân tích nhu cầu và tiếng nói chung của cộng đồng (nam – nữ) đều bị bỏ qua thì những nguyện vọng, mong muốn của nữ giới nói chung cũng như những tác động của hoạt động khai khoáng đến đời sống của phụ nữ nói riêng không được đề cập là chuyện tất nhiên.

Thiếu kiến thức về luật pháp khiến người dân và phụ nữ khó bảo vệ quyền lợi của mình và cộng đồng: Người dân nói chung và phụ nữ nói riêng phần lớn không biết đến Luật Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường, những quy định về cam kết bảo vệ môi trường, những quy định về trách nhiệm của đơn vị khai thác, quyền lợi của mình cũng như thiếu kiến thức liên quan đến khiếu kiện, đề đạt nguyện vọng hay ý kiến bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cộng đồng, hoặc không có tiền để thuê luật sư, không biết cách để tiếp cận với luật sư. Do đó phản ánh với chính quyền cơ sở và công ty không được, người dân chọn làm theo cách của họ như tụ tập đông người bột phát, chặn xe công ty là một trong nhiều cách mà người dân lựa chọn.

Việc tham vấn trước khi khai khoáng không được đảm bảo, nhưng ngay cả việc đền bù, ảnh hưởng thiệt hại mọi mặt do khai khoáng gây ra, đều không được giải quyết thoả đáng dẫn các trường hợp đền bù không thoả đáng từ đất ruộng, hoa màu bị thiệt hại, nhà nứt, người lưu thông giao thông gặp nguy hiểm. Điều này cho thấy quyền lợi của người dân bản địa nói chung và phụ nữ nói riêng không được tôn trọng.

Quan điểm và nhận thức về Giới của những người liên quan đến lĩnh vực khai khoáng hầu như rất mờ nhạt, thậm chí còn không thấy có mối liên hệ nào giữa hai yếu tố này, họ cho rằng giới là một phạm trù thuộc về vấn đề xã hội, khai khoáng liên quan đến kĩ thuật, đến tự nhiên. Khi nói đến khai khoáng, những nhà quản lí, nhà chuyên môn chủ yếu nói đến tác động về mặt môi trường, nếu có, trong các phân tích của họ, họ không nhận thấy tầm quan trọng của việc phải hiểu vai trò của phụ nữ và nam giới khác nhau, nhu cầu và các tác động đến hai nhóm đối tượng này cũng khác nhau và cần có những quan điểm phù hợp mới có thể phát triển ngành công nghiệp khai khoáng dựa trên nền tảng bình đẳng giới và mục tiêu cuối cùng cũng là để phát triển cho cộng đồng, cho xã hội nói chung. Cũng phải nói đến lợi ích nhóm nữa trong cấp giấy phép.

Trong bối cảnh biến động mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ở các cộng đồng có khoáng sản khai thác, những quan niệm giới truyền thống vẫn được níu giữ trong cách ứng xử với phụ nữ và nam giới, trong những mong đợi khác biệt khiến phụ nữ chịu nhiều khó khăn hơn, cam chịu những gánh nặng không dễ được san sẻ. Với người phụ nữ ở cộng đồng chịu tác động bởi hoạt động khai khoáng, những thay đổi sinh kế, dẫn đến nhiều thay đổi tiêu cực và cả tích cực. Ở một góc độ nào đó, người phụ nữ phải nỗ lực hơn và cảm thấy mạnh mẽ hơn, tham gia các hoạt động cộng đồng, phát biểu ý kiến tự tin hơn. Tuy vậy, việc phân công lao động trong các hoạt động tạo thu nhập vẫn chịu tác động một cách có hệ thống bởi những mong đợi và định kiến với người nữ.

Lồng ghép giới trong chính sách chưa thể hiện rõ ràng. Có sự tách biệt giữa chính sách dành riêng cho lĩnh vực khai khoáng và chính sách về giới nói chung. Trong các chính sách và luật về khai khoáng, trong các báo cáo Đánh giá tác động môi trường chỉ có một số và một phần nhỏ có nói đến “cộng đồng”, chủ yếu là trong các điều khoản về ‘tham vấn cộng đồng’. Mặc dù vậy, mức độ tham gia của cộng đồng cũng rất thấp trong những quyết định liên quan đến hoạt động cấp phép, hoạt động khai thác và sau khai thác. Chưa dám nói đến sự phân tách về nhu cầu cũng như những đặc điểm riêng, khác biệt của phụ nữ và nam giới trong các chính sách và luật pháp liên quan thì hoàn toàn không được đề cập đến. Thiếu vắng vai trò của các tổ chức dân sự xã hội bao gồm Hội phụ nữ, với tư cách đại diện cho lợi ích của cộng đồng phụ nữ nói chung, trong các tham vấn liên quan đến chính sách trong lĩnh vực khai khoáng.

Không giúp được cho việc cải thiện những quan niệm giới truyền thống ấy, khung luật pháp liên quan lại trung tính, phớt lờ những thực hành khiến người phụ nữ tiếp tục mắc kẹt trong các định kiến. Việc không thực hiện nghiêm túc và triệt để hoạt động tham vấn với cộng đồng, với đại diện của phụ nữ đã làm cho những tác động tiêu cực của hoạt động khai khoáng cứ hiện hữu trong cộng đồng và mỗi gia đình đình.

Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, gợi ý để thay đổi phần nào những vấn đề nổi lên trong các hoạt động khai khoáng. Để giải quyết một vấn đề, tất nhiên cần có sự phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp, ở nhiều cấp khác nhau, nhiều quy mô khác nhau, tuy nhiên, để yếu tố Giới không bị coi là ẩn trong lĩnh vực khai khoáng, có thể đi theo một số hướng sau: Chú trọng vai trò của các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức quần chúng. Trong các hoạt động khai khoáng, cần tính đến nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của nam và nữ hướng đến bình đẳng giới. Cần chú ý đến nhóm phụ nữ trong cộng đồng với lý do với vai trò giới hiện tại, cùng với nam giới, phụ nữ là người chịu trách nhịêm chính đối với cuộc sống gia đình từ sản xuất đến tái sản xuất. Phải có những lưu ý nghiêm túc từ góc độ bình đẳng giới trong việc thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách liên quan đến khai khoáng. Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản cần lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người dân, của người phụ nữ. Tất cả những người liên quan đến thực thi và giám sát Luật Khai khoáng, Luật Bảo vệ môi trường cần hiểu rõ Bình đẳng giới thực chất và nắm được những quy định cơ bản của Luật Bình đẳng giới.

CGFED’s Tornado Group

Hãy bình luận cho:

Giới- Yếu tố ẩn trong lĩnh vực khai khoáng ở Việt Nam